A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

SKKN: Một số biện pháp  phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng

MỤC LỤC

STT

NỘI DUNG

TRANG

1

I.ĐẶT VẤN ĐỀ

3

2

1. Lí do chọn đề tài

3

3

2. Mục đích ngiên cứu

5

4

3. Đối tượng nghiên cứu

5

5

  1. 4. Đối tượng khảo sát thực nghiệm

5

6

5. Phương pháp nghiên cứu

5

7

6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu

5

8

II. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

5

9

1.Cơ sở lí luận

5

10

  1. Khảo sát thực tế

6

11

2.1. Thuận lợi

6

12

2.2. Khó khăn

6

13

  1. Những biện pháp thực hiện ( Nội dung chủ yếu của đề tài)

8

14

4.Các biện pháp thực hiện ( Nêu rõ từng phần )

8

15

4.1. Biện pháp1: Phát triển ngôn ngữ thông qua các giờ hoạt động học.

8

16

4.2. Biện pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin

18

17

4.3. Biện pháp 3: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mọi lúc mọi nơi

20

18

4.4. Biện pháp 4: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi.

28

19

4.5. Biện pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh

30

20

III. KẾT QUẢ

32

21

IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

33

22

1.Kết luận

33

23

2. Đề xuất và khuyến nghị

33

24

                     V. TÀI LIỆU THAM KHẢO

34

PHẦN I

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài.

Như Bác Hồ của chúng ta đã dạy “Tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, tôn trọng nó.” Đúng vậy ngôn ngữ là thành tựu lớn nhất của con người, là một hệ thống tín hiệu đặc biệt.ngôn ngữ còn có vai trò rất lớn trong cuộc sống của con người. Nhờ ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, bày tỏ với nhau những nguyện vọng và ý muốn. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của các thành viên trong xã hội loài người.

Nếu con người không có ngôn ngữ thì không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em. Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nền văn hóa loài người. Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của  mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và hoạt động hình thành nhân cách trẻ.

Ngày nay trong công tác giáo dục thế hệ mầm non cho đất nước, chúng ta càng thấy rõ vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục trẻ thơ. Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo các cháu trở thành những con người phát triển toàn diện.

            Lứa tuổi mầm non là thời kỳ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp. Đây là giai đoạn có nhiều điều kiện thuận lợi nhất cho sự lĩnh hội ngôn ngữ và các kỹ năng ban đầu của trẻ. Ở lĩnh vực này, trẻ đạt được những thành tích vĩ đại mà ở các giai đoạn phát triển sớm hay muộn hơn không thể có được. Cùng với quá trình lĩnh hội ngôn ngữ trẻ còn lĩnh hội và phát triển các năng lực tư duy như xây dựng, chia sẻ thông tin…

          Trẻ em sinh ra đầu tiên là những cơ thể sinh học, nhờ có ngôn ngữ là phương tiện giao lưu bằng hoạt động tích cực của mình dưới sự giáo dục và dạy học của người lớn trẻ em dần chiếm lĩnh được những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của loài người và biến nó thành cái riêng của mình. Trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ sẽ trở thành những chủ thể có ý thức, lĩnh hội kinh nghiệm của loài người xây dựng xã hội ngày càng phát triển hơn.

          Phát triển ngôn ngữ và giao tiếp có ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực phát triển khác của trẻ, là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ hoạt động trí tuệ và là phương tiện để giáo dục tình cảm, thẩm mỹ cho trẻ. Ngôn ngữ là phương tiện của giao tiếp vì thế ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong việc phát triển các năng lực và kỹ năng xã hội ở trẻ. Trẻ không chỉ sử dụng ngôn ngữ để bày tỏ thái độ suy nghĩ của bản thân với mọi người xung quanh mà còn để tiếp nhận, hiểu thái độ suy nghĩ tình cảm và giao tiếp của người khác. Như vậy ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với xã hội và đối với con người. Vấn đề phát triển ngôn ngữ một cách có hệ thống cho trẻ ngay từ nhỏ là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.Trẻ ở giai đoạn 24 – 36 tháng là giai đoạn quan trọng nhất trong phát triển ngôn ngữ của trẻ điều này thật đúng. Do đặc điểm và nhu cầu giao tiếp mà vào giai đoạn 24 - 36 tháng lời nói của trẻ phát triển với tốc độ mạnh mẽ nhất. Nhiệm vụ phát triển lời nói bao gồm nhiều mặt. Cần dạy trẻ hiểu lời nói của người lớn, mở rộng vốn từ tích cực, dạy trẻ các mẫu câu, phát triển ngôn ngữ của trẻ với người lớn và những trẻ khác.

         Ở tuổi nhà  trẻ trẻ thường nói trống không, không đủ câu, trọn nghĩa vì vốn từ của trẻ còn nghèo nàn, diễn đạt không đủ câu, rõ ý.Vì vậy việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là rất quan trọng qua đó giúp trẻ làm giàu vốn tư, phát âm chính xác, nói đủ câu, trọn nghĩa. Do đó ở trường mầm non là nơi tạo điều kiện tôt nhất để trẻ phát triển toàn vẹn nhân cách, trong đó của giáo dục và hoạt động tích cực của từng cá nhân trẻ có ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển của trẻ nói chung, và phát triển ngôn ngữ của từng trẻ nói riêng. Song trên thực tế để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ giáo viên mầm non đã làm gì để cung cấp vốn từ phong phú, dạy trẻ phát âm chuẩn? hay khi hướng dẫn trẻ tham gia vào hoạt động ngôn ngữ, giáo viên đã phát huy được tính tích cực, đã tạo điều kiện cho trẻ được luyện tập khả năng nói, phát âm chính xác, sử dụng từ đúng để diễn đạt ý nghĩa của mình trong các tình huống khác nhau của hoạt động ngôn ngữ chưa?

          Từ những trăn trở trên nên khi được giao phụ trách lớp 24- 36 tuổi tôi luôn cố gắng nghiên cứu tài liệu và vận dụng những kinh nghiệm tích lũy của bản thân để tìm ra các hình thức, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng phất triển ngôn ngữ 24- 36 tháng tuổi của lớp tôi .

Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “ Một số biện pháp  phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng ” nhằm nâng cao chất lượng  chăm sóc giáo dục trẻ đối với chương trình GDMN mới hiện nay.

2. Mục đích nghiên cứu.

       Dựa vào điều kiện thực tế của địa phương, của trường mầm non nơi tôi đang công tác và đặc biệt là đặc điểm của trẻ nhà trẻ. Tôi chọn đề tài này xác định thực trạng và đề xuất biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 -36 tháng nhằm mục đích rèn kỹ năng tự tin khi giao tiếp, phát triển ngôn ngữ và hoàn thiện nhân cách cho trẻ.

3. Đối tượng nghiên cứu:                                               

Một số biện pháp  phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng.

4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm:

Trẻ nhà trẻ 24-36 tháng D2 Trường Mầm Non nơi tôi đang công tác.

5. Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp trực quan
  • Phương pháp dùng lời
  • Phương pháp thực hành
  • Phương pháp phương pháp đánh giá kết quả
  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

6. Phạm vi và kế hoạch nghiên cứu:

- Phạm vi: Đề tài được thực hiện tại lớp 24-36 tháng D2 trường mầm non nơi tôi đang công tác.

- Thời gian thực hiện: Từ tháng 09 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019. Tại trường mầm non tôi đang công tác, củng cố và thực hiện cho những năm tiếp theo.

PHẦN II

NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Cơ sở lý luận:

Trong những năm đầu của cuộc đời, sự phát triển lời nói của trẻ đã diễn ra những bước tiến mạnh mẽ. Chúng được xác định bởi tốc độ phát triển nhanh chóng và lĩnh hội các mặt khác nhau của tiếng mẹ đẻ. Trong năm đầu tiên có thể phát triển về phản ứng giọng nói,  khả năng bắt chước và hiểu, nắm được những từ đầu tiên. Ở năm thứ hai: Hiểu, bắt chước lời nói tích cực( phát triển vốn từ). Ở năm thứ ba: Hiểu lời nói tích cực, vốn từ, các hình thức ngữ pháp, các câu khác nhau. Ngôn ngữ còn là phương tiện giúp trẻ tìm hiểu khám phá, nhận thức về môi trường xung quanh, thông qua cử chỉ lời nói của người lớn trẻ sẽ được làm quen với các sự vật, hiện tượng có trong môi trường xung quanh. Nhờ có ngôn ngữ mà trẻ sẽ nhận biết ngày càng nhiều màu sắc, hình ảnh… của các sự vật,  hiện tượng trong cuộc sống hàng ngày. Đặc biệt đối với trẻ nhà trẻ cần giúp trẻ phát triển mở rộng các loại vốn từ, biết sử dụng nhiều loại câu bằng cách thường xuyên nói chuyện với trẻ về những sự vật, hiện tượng, hình ảnh…. Xung quanh mà trẻ nhìn thấy trong sinh hoạt hành ngày, nói cho trẻ biết đặc điểm, tính chất, công dụng của chúng từ đó hình thành ngôn ngữ cho trẻ .

          Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là giáo dục khả năng nghe, hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn, phát triển vốn từ, dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc, giáo dục văn hoá giao tiếp lời nói. Ngoài ra ngôn ngữ còn là phương tiện phát triển thẩm mỹ, tình cảm, đạo đức. Đặc biệt nhờ có ngôn ngữ mà  trẻ dễ dàng  tiếp nhận những chuẩn mực đạo đức của xã hội  và hoà nhập vào xã hội tốt hơn.

2. Khảo sát thực trạng.

2.1.Thuận lợi:

Được sự quan tâm sát sao của Phòng giáo dục Ba vì cũng như  sự quan tâm tạo điều kiện của Ban giám hiệu đầu tư về cơ sở vật chất trang thiết bị phòng học đạt chuẩn.

- Lớp có diện tích khá rộng rãi, thoáng mát. Đủ diện tích cho trẻ hoạt động.

   - Trẻ được phân chia theo đúng độ tuổi.

- Đa số trẻ đi học đều ăn bán trú 100%

 - Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ phong phú về màu sắc, hấp dẫn thu hút trẻ.

          Giáo viên tích cực làm đồ dùng đồ chơi sáng tạo phục vụ cho việc cung cấp và phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

Phụ huynh quan tâm đưa đón con đi học đúng giờ, thường xuyên trao đổi tình hình học tập vui chơi của trẻ ở nhà cũng như ở trường. Phối hợp tốt với giáo viên để phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

2.2 Khó khăn:

- Ở tuổi 24 - 36 tháng các cháu mới bắt đầu đến trường, đến lớp nên còn khóc nhiều chưa thích nghi với điều kiện sinh hoạt của lớp. Mỗi cháu lại có những sở thích và cá tính khác nhau.

- Trẻ ở độ tuổi nhà trẻ chưa phát triển hết vốn từ, trẻ chưa nhớ hết trật tự của các âm khi sắp xếp thành câu vì thế trẻ thường xuyên bỏ bớt từ. Trẻ phát âm chưa chính xác hay nói ngọng dấu ngã - dấu sắc, dấu hỏi – dấu nặng.

- Đa số trẻ là con em dân tộc thiểu số.

- Khả năng giao tiếp của trẻ còn nhút nhát,

Đồ dùng theo thông tư 02 còn thiếu chưa đáp ứng được nhu cầu vui chơi, học tập của trẻ.

- Một số đồ dùng phục vụ giảng dạy còn thiếu..

Còn một số phụ huynh chưa quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, còn phó thác rằng việc phát triển ngôn ngữ là do tự nhiên hoặc đó là việc của giáo viên.

          Vi thế tôi rất băn khoăn, trăn trở làm thế nào để trẻ có thể giao tiếp tự tin hơn, bớt nói ngọng hơn, vốn từ phong phú hơn…Phát huy từ những thuận lợi sẵn có, khắc phục một số khó khăn còn tồn tại tôi đi sâu vào nghiên cứu biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24 - 36 tháng.

2.3. Số liệu điều tra trước khi thực hiện.

Là một giáo viên chủ nhiệm trực tiếp đứng lớp ngay từ đầu năm học tôi luôn quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lý cũng như ngôn ngữ giao tiếp của từng trẻ nhằm tìm hiểu khả năng giao tiếp bằng ngôn ngữ để kịp thời có những biện pháp giáo dục và nâng cao dần ngôn ngữ cho trẻ. Khi tiếp xúc với trẻ tôi nhận thấy rằng ngôn ngữ của trẻ còn nhiều hạn chế về câu từ, về cách phát âm, trẻ nói ngọng, nhút nhát trong giao tiếp. Khi trẻ nói hầu hết toàn bớt âm trong các từ, giao tiếp không đủ câu cho nên nhiều khi giáo viên không hiểu trẻ đang nói về cái gì? Cũng có một số trẻ còn hạn chế khi nói, trẻ chỉ biết chỉ tay vào những thứ mình cần khi cô hỏi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc ngôn ngữ của trẻ còn hạn chế, bản thân tôi nghĩ rằng mình phải tìm tòi, suy nghĩ và nghiên cứu tài liệu để tìm ra những biện pháp hay giúp trẻ phát triển ngôn  ngữ giao tiếp cách có hiệu quả nhất để có thể giúp trẻ tự tin hơn khi giao tiếp với cô giáo, các bạn và mọi người xung quanh.

 

Bảng khảo sát thực trạng đầu năm học 2018 - 2019

STT

Phân loại khả năng

Đầu năm

Đạt

Chưa đạt

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

1

Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ  và phát âm chuẩn.

7/20

35

16

65

2

Phát triển vốn từ

8/20

40

12

60

3

Khả năng nói đúng ngữ pháp

9/20

45

11

55

4

Khả năng giao tiếp

8/20

40

12

60

 

3. Những biện pháp thực hiện

a. Biện pháp 1: Phát triển ngôn ngữ thông qua các hoạt động học.

b. Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi.

c. Biện pháp 3: Giúp trẻ  phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi.    

d. Biện pháp 4: Phối kết hợp với phụ huynh.

4. Biện pháp thực hiện ( Biện pháp thực hiện từng phần )

4.1. Biện pháp 1: Phát triển ngôn ngữ thông qua các giờ hoạt động học.

 a. Thông qua hoạt động nhận biết tập nói:

          Hoạt động nhận biết tập nói là hoạt động quan trọng nhất đối với sự phát triển ngôn ngữ và cung cấp vốn từ vựng cho trẻ.

 Trẻ ở lứa tuổi 24-36 tháng đang bắt đầu học nói, bộ máy phát âm chưa hoàn chỉnh, vì vậy trẻ thường nói không đủ từ, nói ngọng, nói lắp. Cho nên trong tiết dạy cô phải chuẩn bị đồ dùng trực quan đẹp, hấp dẫn để gây hứng thú cho trẻ. Bên cạnh đó cô phải chuẩn bị một hệ thống câu hỏi rõ ràng ngắn gọn trong khi trẻ trả lời cô hướng dẫn trẻ nói đúng từ, đủ câu không nói cộc lốc.

VD1: Trong hoạt động nhận biết “Quả cam” cô muốn cung cấp kiến thức về quả cam cho trẻ cô phải chuẩn bị một quả cam thật để cho trẻ quan sát. Trẻ sẽ sử dụng các giác quan như: sờ, nhìn, nếm…..nhằm phát huy tính tích cực của tư duy, rèn khả năng ghi nhớ có chủ đích.

Để giúp trẻ hứng thú tập trung vào đối tượng quan sát cô cần đưa ra hệ thống câu hỏi: Trên tay cô đang có gì đây?, Đây là quả gì?, Quả cam có dạng hình gi?, Quả cam có màu gì?...

Hình ảnh trẻ quan sát quả cam

 b. Thông qua hoạt động thơ, truyện.

        Trong giờ cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học là phát triển ngôn ngữ nói cho trẻ và còn hình thành phát triển ở trẻ kỹ năng nói mạch lạc mà muốn làm được như vậy trẻ phải có vốn từ phong phú hay nói cách khác là trẻ cũng được học thêm được các từ mới qua giờ học thơ, truyện.

       Để giờ làm quen với văn học đạt kết quả cao cũng như hình thành ngôn ngữ cho trẻ thì đồ dùng phục vụ cho tiết học phải đảm bảo:

         + Đồ dùng phải đẹp, màu sắc phù hợp, đảm bảo tính an toàn và vệ sinh cho trẻ.

+ Tranh truyện vẽ hình ảnh phải đẹp, phù hợp với câu truyện, để trẻ quan sát trực quan và gây được hứng thú tạo điều kiện cho trẻ phát triển vồn từ được thuận lợi.

          + Bản thân giáo viên phải thuộc truyện, ngôn ngữ của cô phải trong sáng, giọng đọc phải diễn cảm, thể hiện đúng ngữ điệu của các nhân vật.

             VD1:    Khi cho trẻ làm quen với câu chuyện “ Chú thỏ tinh khôn”.

Để thu hút trẻ cô cùng trẻ hát bài “ Trời nắng, trời mưa” trẻ vừa hát vừa vận động theo lời bài hát. Cô cho trẻ xem tranh con thỏ và cô cung cấp vốn từ cho trẻ đó là từ “Con Thỏ ”.Sau dẫn dắt vào câu chuyện.

Hình ảnh cô kể truyện cho trẻ nghe

 Trong quá trình dạy tôi đã nói nội dung câu chuyện cho trẻ hiểu và đưa ra những câu trả lời cho trẻ: Cô vừa kể chuyện gì?, Trong câu chuyện có những nhân vật nào?, Thỏ đến bờ sông để làm gì?, Thấy thỏ cá sâu đã làm gì?, Cá sấu kêu hu hu thỏ có sợ không?, Thỏ đã bảo cá sâu kêu như thế nào?, Thỏ còn quay lại làm gì?....

          Cô kể 1-2 lần cho trẻ nghe giúp trẻ hiểu thêm về tác phẩm và qua đó lấy nhân vật để giáo dục trẻ phải biết mạnh dạn bình tĩnh, không nhút nhát.

VD2:    Trong hoạt động thơ tôi muốn cung cấp và rèn cho trẻ đọc đúng từ tôi phải chuẩn bị tranh bài thơ thật sinh động và bắt mắt màu sắc thật đẹp.

Tôi cũng chuẩn bị câu hỏi để trẻ trả lời: Cô vừa đọc cho các con nghe bài thơ gì? của tác giả nào?, bài thơ nói về cái gì?, con gì?...

 Như vậy qua bài thơ ngoài những từ ngữ trẻ đã biết lại cung cấp thêm vốn từ mới cho trẻ để ngôn ngữ của trẻ thêm phong phú.

Ngoài việc cung cấp cho trẻ vốn từ mới thì việc sửa lỗi nói ngọng, nói lắp cũng vô cùng quan trọng khi trẻ giao tiếp. Khi áp dụng vào bài dạy tôi luôn chú trọng đến điều này và đã kịp thời sửa sai cho trẻ ngay tại chỗ.

      Như vậy thơ, truyện không những kích thích nhận thức có hình ảnh của trẻ mà còn phát triển ngôn ngữ giúp trẻ phát triển một cách toàn diện. Trẻ nhớ nội dung câu chuyện và biết sử dụng ngôn ngữ nói là phương tiện để tiếp thu kiến thức.

c. Thông qua hoạt động âm nhạc:

            Giờ Hoạt động âm nhạc trẻ rất hứng thú vì trẻ được nghe các bài hát, bản nhạc vui tươi kết hợp với các vận động nhịp nhàng. Được hoạt động với các dụng cụ âm nhạc phát ra tiếng kêu như trống, xắc xô. Để làm được như vậy đó là nhờ sự hiểu biết, nhận thức vốn từ, kỹ năng nhất là sự giao tiếp bằng ngôn ngữ của trẻ được tích luỹ và lĩnh hội, phát triển tính nghệ thuật, giúp trẻ yêu âm nhạc.

Qua những giờ học hát, vận động theo nhạc, trẻ đã biết sử dụng ngôn ngữ có mục đích, biết dùng ngôn ngữ và động tác cơ bản để miêu tả những hình ảnh đẹp của bài hát.

    VD:    Hát và vận động bài “Con voi”

                                          Con vỏi con voi

                                          Cái vòi đi trước.

                                          Hai chân trước đi trước

                                          Hai chân sau đi sau.

                                          Còn cái đuôi đi sau rốt

                                          Tôi xin kể nốt

                                          Câu chuyên con voi.

  • Cô cùng trẻ vận động bài hát “Con voi” và đặt câu hỏi trẻ về nội dung bài hát.

+ Vòi voi ở đâu?

+ Hai chân trước của voi như thế nào?

+ Hai chân sau của voi như thế nào?

+ Con cái đuôi thì làm sao?

 (Trẻ trả lời những câu hỏi của cô)

Hình ảnh cô và trẻ giờ học hát

d. Thông qua hoạt động phát triển vận động:

Ở hoạt động phát triển vận động ngoài những vận động cơ bản tôi còn cho trẻ kết hợp các trò chơi vận động như trò chơi: Con rùa, Bóng tròn to, trò chơi lộn cầu vồng, chi chi chành chành…

VD:  Trò chơi: Lộn cầu vồng.

Cách chơi như sau: Từng đôi trẻ đứng đối diện cầm tay nhau đu đưa theo nhip thơ, mỗi lần đưa tay sang là ứng với một tiếng. Đọc đến câu cuối, cả hai cùng giơ tay lên đầu, chui qua tay nhau về một phía, quay lưng vào nhau, hạ tay xuống dưới và tiếp tục đọc lần hai cách vung tay cũng giống như lần 1, đọc đến câu cuối cùng lại chui qua tay nhau, lộn trở lại tư thế ban đầu.

Lộn cầu vồng

Nước trong, nước chảy

Có cô mườ bảy

Có chị mười ba

Hai chị em ta

Ra lộn cầu vồng.

Hay trò chơi ‘ Chi chi chành chành’.

Cô cho trẻ ngồi vào từng nhóm rồi đọc theo lời bài đồng giao và chơi.

Hình ảnh cô và trẻ chơi trò chơi chi chi chành chành

Thông qua các bài đồng giao, ca giao, trò chơi dân gian, trẻ vừa chơi vừa kết hợp tôi vừa tạo cho trẻ hứng thú giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, phát triển tố chất nhanh nhẹn.

4.2. Biện pháp 2: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi

a. Giờ đón trẻ

Buổi sáng giờ đón trẻ là lúc cần tạo không khí vui vẻ, lôi cuốn trẻ tới lớp, cô giáo ân cần, niềm nở khi vào lớp cô gần gũi trò chuyện với trẻ. Vì trò chuyện là hình thức đơn giản nhất để cung cấp vốn từ và phát triển ngôn ngữ cho trẻ, đặc biệt là ngôn ngữ mạch lạc. Bởi qua cách trò chuyện với trẻ cô mới có thể cung cấp, mở rộng được nhiều vốn từ. VD:  Cô trò chuyện với trẻ: Gia đình con có những ai?, trong gia đình ai yêu con nhất?, hôm nay ai đưa con đi học?, Mẹ con đưa con đi học bằng phương tiện gì?...

Hình ảnh cô đón trẻ và trò chuyện với trẻ

Như vậy khi trò chuyện với cô trẻ tự tin vào vốn từ của mình, ngôn ngữ của trẻ nhờ đó mà được mở rộng và phát triển hơn.

 Trong giờ đón trẻ, tôi luôn nhắc trẻ biết chào cô giáo, chào ông, bà, bố, mẹ chào các bạn  như vậy kích thích trẻ trả lời câu trọn vẹn bên cạnh đó giáo dục trẻ có thói quen lễ phép, biết vâng lời.

b. Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động ngoài trời:

          Giờ hoạt động ngoài trời đi dạo chơi quanh sân trường tôi thường xuyên đặt câu hỏi gợi mở để trẻ được gọi tên các đồ chơi quanh sân trường như: Đu quay, cầu trượt, bập bênh, xích đu….

                   +Cái xích đu này dùng để làm gì?

                   +Cái ghế ngồi này có màu gì?

Ngoài ra tôi còn giới thiệu cho trẻ biết cây xanh, cây hoa ở vườn trường và hỏi trẻ.

              + Bông hoa này có màu gì?

              + Lá có màu gì?

              + Các con ngửi xem bông hoa này có mùi gì?

Các con ạ cây xanh cho chúng ta bóng mát, làm cho không khí trong lành. Cây hoa thì cho chúng ta những bông hoa đẹp để cho môi trường đẹp hơn vì vậy các con không được hái hoa, bẻ cành mà phải tưới cây để cây mau lớn nhé!

Hình ảnh cô và trẻ quan sát hoa và ngửi hoa

          c. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua hoạt động góc:

 Giờ hoạt động góc là giờ trẻ rất hứng thú. Đây là hoạt động giao lưu giữ các góc chơi với nhau, giờ chơi này có tác dụng rất lớn trong việc phát triển vốn từ cho trẻ thời gian trẻ được chơi thoải mái nhất. Trong qúa trình chơi trẻ sử dụng các loại từ khác nhau, khi trẻ chơi cô giáo cần hướng dẫn trẻ, hòa vào chơi cùng trẻ để trẻ tự tin, cô có thể lắng nghe và chia sẻ cảm xúc với trẻ từ đó uốn ắn trẻ kịp thời.   

Ở góc hoạt động với đồ vật, trẻ được xâu vòng hoặc xâu hoa. Cô đến góc và hỏi trẻ. Các con đang làm gì?, hạt vòng có màu gì?, hạt vòng có dạng hình gì?, muốn xâu được vòng các con lấy gì để xâu?...

Hình ảnh trẻ xâu vòng

 Ở  góc ‘‘ thao tác vai” trẻ được chơi với em búp bê và khi chơi trẻ sẽ được giao tiếp với các bạn bằng ngôn ngữ hàng ngày. Nếu trẻ nói chưa đủ câu cô có thể nói để cho trẻ nói theo. Bác đã cho búp bê ăn chưa? Khi ăn bác nhớ đeo yếm để bột không dây ra áo của búp bê nhé!  Ngoan nào mẹ cho búp bê ăn nhé! Bột vẫn còn nóng lắm để mẹ thổi cho nguội đã! Búp bê của mẹ ăn ngoan rồi mẹ cho búp bê đi chơi nhé! 

Qua giờ chơi cô không những dạy trẻ cách xưng hô mà còn dạy trẻ nghe, hiểu giao tiếp cùng nhau.

Hình ảnh trẻ chơi ở góc “Bế em ”

Ở góc “ Bé khéo tay” bằng miếng xốp thừa tôi đã  tận dụng cắt thành hình bông hoa, cái lá để cho trẻ in màu. Trẻ sẽ được in những bông hoa, cái lá  đủ màu sắc tạo lên giấy thành sản phẩm của mình một cách nghệ thuật. Tôi thấy trẻ rất khéo léo, chăm chú khi làm. Khi trẻ làm tôi ân cần đến bên trẻ trò chuyện cùng trẻ: Con đang làm gì vậy?, Bông hoa của con có màu gì?....

Hình ảnh sản phẩm trẻ in hình bông hoa

 Từ những đồ chơi tự tạo thông qua hoạt động chơi ở góc không những rèn cho trẻ sự khéo léo mà còn góp phần giúp trẻ biết trả lời câu hỏi của cô rõ ràng, đủ câu, mở rộng vốn từ cho trẻ. Giúp trẻ mạnh dạn tự tin trình bày ý kiến của mình thông qua đó ngôn ngữ của trẻ phát triển toàn diện hơn.

d. Phát triển ngôn ngữ thông qua hoạt động vệ sinh.

      Thông qua hoạt động vệ sinh cũng giúp trẻ phát triển lời nói, ngôn ngữ. Trẻ được vệ sinh sạch sẽ, trong khi vệ sinh cô hỏi trẻ để trẻ được trả lời, trẻ cảm thấy thỏa mải không bị gò bó hứng thú hơn trong hoạt động vệ sinh.

          VD: Cô đặt câu hỏi để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ: Sáng nay mẹ cho con ăn gì?, trước khi ăn cơm con phải làm gì nào?, rửa tay dể làm gì?...

 

Hình ảnh cô trò chuyện trong giờ vệ sinh

4.4. Biện pháp 4:  Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi.

          Đối với trẻ nhà trẻ. Trò chơi đã trở thành phương tiện để cung cấp, tích luỹ được nhiều vốn từ và trên cơ sở hiểu biết đầy đủ ý nghĩa của những từ đó trẻ biết sử dụng “ Số vốn từ ” đó một cách thành thạo.

          Qua trò chơi trẻ sẽ được giao tiếp mạnh dạn hơn, ngôn ngữ cũng lưu loát hơn, vốn từ của trẻ cũng được tăng lên. Và tôi nhận thấy rằng khi trẻ chơi trò chơi xong sẽ gây sự hứng thú lôi cuốn trẻ vào bài học. Như vậy trẻ sẽ tiếp thu bài một cách nhẹ nhàng và thoải mái.

 Bản thân tôi đã tìm tòi, tham khảo, đọc những tài liệu sách và tôi thấy rằng trò chơi này thực sự có hiệu quả làm tăng thêm vốn từ cho trẻ, từ đó ngôn ngữ của trẻ ngày càng phong phú.

         * Trò chơi: “ Con muỗi ”

          + Cô đứng phía trước trẻ, cô cho trẻ đọc và làm động tác theo cô.

          + Cô cho trẻ đọc từng lời một có kèm theo động tác:

          + Có con muỗi vo ve, vo ve              

          + Đốt cái tay, đốt cái chân, rồi bay đi xa.

          + Úi chà! úi chà! Dang tay ra đánh cái bép, con muỗi xẹp.       

           Tuỳ theo sự hứng thú của trẻ mà cho trẻ chơi 3- 4 lần. Khi trẻ chơi tôi nhận thấy tất cả các trẻ đều tham gia đọc cùng cô, có trẻ đọc được cả câu, có trẻ bập bẹ bớt một hai từ. Nhưng qua đó cũng giúp ngôn ngữ của trẻ dần dần được hình thành  trọn vẹn hơn .

* Về hiện tượng tự nhiên: Trò chơi: “Trời nắng, trời mưa"

Ở trò chơi này trẻ vừa đọc lời bài hát vừa vận động tương ứng

Trời nắng trời nắng thỏ đi tắm nắng “2 tay để trước ngực để về phía trước”

 Vươn vai, vươn vai thỏ rung đôi tai “2 tay để lên đầu, giả làm tai thỏ vẫy vẫy, nghiêng người về 2 phía.

 Nhảy tới, nhảy tới đùa trong nắng mới “2 tay chống vào hông nhảy bật về phía trước”

Bên nhau bên nhau ta cùng chơi “Đi cao bước chân”

Mưa to rồi, mưa to rồi mau mau về thôi “Chạy nhanh về tổ”

Cô và trẻ cùng làm thỏ, cô vừa hát khuyến khích trẻ hát theo cô vừa làm động tác với trẻ.

4.5. Biện pháp 5: Phối kết hợp với phụ huynh.

         Mục đích giúp phụ huynh hiểu rõ kiến thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua các hoạt động của trẻ ở trường cũng như ở nhà. Từ đó tạo sự thống nhất giữa nhà trường, giáo viên và phụ huynh trong việc rèn trẻ.

          Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ không chỉ là việc riêng của giáo viên đứng lớp mà phải có sự phối kết hợp với gia đình. Việc giáo dục trẻ ở gia đình là rất cần thiết tôi luôn kết hợp chặt chẽ với phụ huynh trao đổi thống nhất về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ và kế hoạch lịch sinh hoạt dạy học cho từng tháng, từng tuần cho phụ huynh nắm bắt được.

          Đa số trẻ mới bắt đầu đi học, tôi thường xuyên trao đổi với phụ huynh về ý nghĩa phát triển vốn từ cho trẻ và yêu cầu phụ huynh cùng phối hợp với cô giáo trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ. Hàng ngày phụ huynh phải dành nhiều thời gian thường xuyên trò chuyện cùng trẻ, cho trẻ được tiếp xúc nhiều hơn với các sự vật hiện tượng xung quanh, lắng nghe và trả lời các câu hỏi của trẻ.

          Các cháu mới đi học vốn từ của trẻ còn hạn hẹp, hơn nữa trẻ rất hay nói ngọng, nói lắp thì vai trò của phụ huynh trong việc phối hợp với cô giáo trong việc trò chuyện với trẻ là rất cần thiết bởi nó giúp trẻ được vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống của trẻ, trẻ được giao tiếp, được sửa âm, sửa ngọng.

         Vận động, kết hợp với phụ huynh sưu tầm những quyển thơ, truyện, tranh truyện hình ảnh to, rõ nét, nội dung phù hợp với lứa tuổi nhà trẻ để cho trẻ làm quen và để xây dựng góc thư viện sách truyện của lớp.

 

Hình ảnh phụ huynh ủng hộ tranh truyện

5. Kết quả đạt được

          Sau khi áp dụng Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tuổi tại trường mầm non trong cả năm học tôi thấy có những chuyển biến rõ rệt, phần lớn số trẻ trong lớp đã có một số vốn từ rất khá, các cháu nói năng mạch lạc, rõ ràng được thể hiện như sau:

          Trẻ mạnh dạn, tự tin hơn trong khi giao tiếp.

Trẻ khi giao tiếp biết nói đủ câu hoàn chỉnh.

Trẻ không còn nói ngọng, nói lắp nữa.

           Ngôn ngữ của trẻ đã phong phú hơn và trẻ đã biết vận dụng vốn từ vào cuộc sống hàng ngày.   

 Bằng một số kinh nghiệm của mình mà tôi đã áp dụng trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ lứa tuổi nhà trẻ trong năm học vừa qua và kết quả đạt được như sau:

Bảng so sánh kết quả khảo sát cuối năm học 2018-2019

stt

Nội dung khảo sát

Đầu năm

Cuối năm

Đạt

Chưa đạt

Đạt

Chưa đạt

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

Số trẻ

Tỷ lệ %

1

Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ  và phát âm chuẩn.

7/20

35

16/20

65

18/20

90

2/20

10

2

Phát triển vốn từ

8/20

40

12/20

60

19/20

95

1/20

5

3

Khả năng nói đúng ngữ pháp

9/20

45

11/20

55

18/20

90

2/20

10

4

Khả năng giao tiếp

8/20

40

16/20

65

19/20

95

1/20

5

-  Kết quả cho thấy:  

            + Khả năng nghe hiểu ngôn ngữ và phát âm chuẩn: Đạt: 90%, Chưa đạt: 10%

          + Phát triển vốn từ: Đạt: 95%, Chưa đạt: 5%

          + Khả năng nói đúng ngữ pháp: Đạt: 90%, Chưa đạt: 10%

          + Khả năng giao tiếp: Đạt: 95 %, Chưa đạt: 5 %

6.  Bài học kinh nghiệm

Với kết quả đạt được như trên. Tôi hy vọng rằng cùng với sự luyện tập, giáo dục, bên cạch sự hoàn thiện dần của bộ máy hát âm ở từng trẻ, kết thúc năm học 2018- 2019, những cháu còn hạn chế sẽ phát triển lời nói được tốt hơn, ngôn ngữ giao tiếp được phong phú hơn.

- Giáo viên cần hiểu rõ tầm quan trọng của ngôn ngữ với việc hình thành và phát triển nhân cách, không ngừng học tập và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tự rèn luyện ngôn ngữ của mình để phát âm chuẩn tiếng việt

Để phát triển ngôn ngữ cho trẻ giáo viên cần phải phối hợp chặt chẽ 3 nội dung sau để góp phần tạo điều kiện cho trẻ lĩnh hội những điều mới lạ về thế giới xung quanh

+ Làm giàu vốn từ cho trẻ qua việc hướng dẫn trẻ quan sát, đàm thoại, hướng dẫn trẻ chơi, kể chuyện và đọc chuyện cho trẻ nghe

+ Củng cố vốn từ cho trẻ

+ Tích cực hóa vốn từ cho trẻ

Giáo viên luôn tạo không khí vui tươi, thoải mái cho trẻ, động viên trẻ đi học đều, luôn quan tâm đến trẻ nhút nhát, dành thời gian trò chuyện với trẻ để trẻ mạnh dạn, tự tin tham gia các hoạt động tập thể giúp trẻ được giao tiếp nhiều hơn.

Giáo viên tạo điều kiện cho trẻ tiếp cận và làm quen với thiên nhiên và phát triển khả năng quan sát của trẻ, giúp trẻ củng cố và tư duy hóa các biểu tượng ngôn ngữ.

Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường để có kế hoạch phát triển ngôn ngữ cho trẻ.

PHẦN III

KẾT LUẬN- KHUYẾN NGHỊ

  1. Kết luận

Qua việc đi sâu vào nghiên cứu đề tài: Một số biện pháp  phát triển ngôn ngữ cho trẻ 24- 36 tháng tại trường mầm non.

         Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở trường Mầm Non là vấn đề rất quan trọng và cần thiết, mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

         Phát triển ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống giao tiếp hàng ngày và hoạt động nhận thức của con người nói chung, sự phát triển tâm lý nhận thức của trẻ nói riêng, đặc biệt là trẻ lứa tuổi 24- 36 tháng khả năng ngôn ngữ phát triển rất nhanh.

          Tôi nhận thấy rằng việc rèn luyện và phát triển ngôn ngữ cho trẻ là cả quá trình liên tục và có hệ thống đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, bền bỉ khắc phục khó khăn để tìm ra phương tiện, điều kiện cần thiết cho sự phát triển toàn diện của các con, hơn nữa cô giáo là người gương mẫu để trẻ noi theo, điều này đã góp phần bồi dưỡng thế hệ măng non của đất nước.

2. Khuyến nghị

Đề xuất với sở giáo dục đào tạo Hà Nội- Phòng Giáo dục và đào tạo Ba vì. Tổ chức nhiều hơn nữa các tiết dạy, chuyên đề ở các trường điểm để chúng tôi được học hỏi bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn.

Bổ sung thêm nhiều tài liệu giáo dục mầm non mới về lĩnh vực  phát triển ngôn ngữ để chúng tôi học tập, nghiên cứu.

          Mong nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa của các cấp lãnh đạo về cơ sở vật chất, đồ dùng dạy học như công nghệ thông tin để phục vụ công tác giảng dạy được tốt hơn.

Trên đây là một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ 24 – 36 tháng mà tôi đã nghiên cứu và thực hiện tại trường tôi đang công tác và đã đạt được hiệu quả. Tuy nhiên trong khi thực hiện đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến xây dựng của các cấp lãnh đạo, các bạn đồng nghiêp để đề tài của tôi ngày càng hoàn thiện hơn.

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Tôi xin cam đoan SKKN này do tôi tự nghiên cứu và thực nghiệm tại trường tôi đang công tác không sao chép của người khác. Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

 

            

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Tuyển chọn những trò chơi, bài hát, thơ ca, câu đố theo chủ đề.
  2.  Hướng dẫn thực hiện chương trình GDMN trẻ 24-36 tháng.
  3. Hướng dẫn các hoạt động phát triển ngôn ngữ và giao tiếp cho trẻ mầm non
  4. Các trò chơi và hoạt động cho trẻ 24-36 tháng.
  5. Giáo trình phát triển lời nói trẻ em.

 


Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nguồn:Trường MN Tản Lĩnh B Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Tin liên quan